Dù hợp đồng tặng cho đất thiếu chữ ký người làm chứng, người em gái vẫn yêu cầu hủy bỏ và chia lại di sản thừa kế. Tuy nhiên, Tòa án cho rằng đây chỉ là thiếu sót về hình thức, không làm mất hiệu lực của giao dịch.
Em gái đòi chia thừa kế, anh ruột khẳng định đất đã được cho riêng
Theo trình bày của bà Đ. (ngụ TP Cần Thơ) tại Bản án số 75/2026/DS-PT ngày 27/1/2026 của TAND TP Cần Thơ, cha mẹ bà lần lượt qua đời vào các năm 2013 và 2019. Hai người có 11 người con, trong đó bà là con út.
Khi còn sống, cha mẹ bà tạo lập được thửa đất khoảng 1.600m2 tại tỉnh Sóc Trăng (nay thuộc TP Cần Thơ). Tuy nhiên, khi qua đời, cha mẹ bà không để lại di chúc. Do nhiều anh chị em sinh sống xa nhau, việc đi lại khó khăn nên đến nay gia đình chưa thực hiện thủ tục khai nhận di sản thừa kế.
Đến tháng 11/2024, bà Đ. phát hiện có người đến đo đạc, chuẩn bị xây dựng, bà mới biết anh ruột là ông C. đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thậm chí có ý định chuyển nhượng và hiến một phần đất cho địa phương.
Cho rằng quyền lợi bị ảnh hưởng, bà Đ. khởi kiện, yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với thửa đất, đồng thời đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông C.

Ngược lại, ông C. khẳng định cha mẹ đã phân chia đất đai cho các con từ trước. Riêng thửa đất đang tranh chấp là phần còn lại, do ông trực tiếp quản lý, sinh sống và chăm sóc cha mẹ đến cuối đời.
Ông cho biết, năm 2015, Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cha ông. Năm 2018, cha ông lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; sau đó, ông được cơ quan nhà nước xác nhận biến động và tiếp tục đứng tên hợp pháp. Nhiều anh chị em khác cũng đã nhận đất từ trước, thậm chí có người đã chuyển nhượng phần của mình.
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND khu vực 10 - Cần Thơ nhận định thửa đất đã được tặng cho hợp pháp nên không còn thuộc khối di sản để chia thừa kế. Từ đó, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Hợp đồng tặng cho thiếu chữ ký nhân chứng vẫn được công nhận
Không đồng ý với phán quyết trên, bà Đ. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, bà cho rằng việc tặng cho đất là không hợp lệ vì vào thời điểm năm 2018, cha bà đã lớn tuổi, sức khỏe yếu, khả năng nhận thức hạn chế. Đồng thời, bà cho rằng hợp đồng tặng cho không có chữ ký của người làm chứng nên không đảm bảo tính pháp lý.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định các tài liệu trong hồ sơ, bao gồm xác nhận của UBND xã và cơ quan tài nguyên - môi trường, đều cho thấy tại thời điểm lập hợp đồng, người cha vẫn có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thể hiện ý chí tặng cho và việc chứng thực được thực hiện đúng quy định.
Đáng chú ý, Tòa cũng phân tích rõ về thiếu sót hình thức của hợp đồng. Cụ thể, dù hợp đồng tặng cho không có chữ ký của người làm chứng, nhưng những người có mặt tại thời điểm đó đều xác nhận việc tặng cho là có thật, được thực hiện công khai và tự nguyện. Các bên sau đó cũng đã hoàn tất việc thực hiện hợp đồng, cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C.
Theo quy định của pháp luật dân sự, trong trường hợp giao dịch vi phạm về hình thức nhưng đã được thực hiện trên thực tế và không phát sinh tranh chấp tại thời điểm xác lập, thì vẫn có thể được công nhận hiệu lực. Vì vậy, Tòa án xác định hợp đồng tặng cho trong vụ án vẫn hợp pháp.
Ngoài ra, Hội đồng xét xử cũng ghi nhận rằng khi còn sống, cha mẹ đã phân chia đất đai cho các con, và riêng phần đất này, người cha đã thể hiện rõ ý chí tặng cho ông C. Việc này được nhiều thành viên trong gia đình biết và không phản đối trong thời gian dài.
Tòa cũng xem xét thực tế ông C. đã sử dụng đất ổn định, thậm chí còn hiến một phần đất cho địa phương xây dựng trụ sở công an mà không gặp phản đối, kể cả từ bà Đ.
Từ các căn cứ trên, Tòa phúc thẩm xác định phần đất tranh chấp là tài sản riêng của ông C., không còn là di sản thừa kế. Do đó, yêu cầu chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận của bà Đ. không có cơ sở.
Nguồn: Vietnam.net