Thư Viện Bất Động Sản
Thư Viện Bất Động Sản
Minh bạch thông tin - Vững tin đầu tư...
Logo
Thư Viện Bất Động Sản
Minh bạch thông tin - Vững tin đầu tư
Đăng nhập Đăng ký
Nguyên tắc hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công để phát triển kinh tế tư nhân như thế nào?

Căn cứ tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 20/2026/NĐ-CP quy định về hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công như sau:

Điều 6. Hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công
[...]
4. Nguyên tắc hỗ trợ:
a) Việc hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này phải đảm bảo đúng đối tượng, công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả, đúng pháp luật;
b) Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp đăng ký thuê nhà, việc lựa chọn đối tượng cho thuê được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại khoản 5 Điều 14 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP;
c) Việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ việc cho thuê nhà, việc xử lý vi phạm thực hiện theo quy định tại Nghị định số 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 286/2025/NĐ-CP);
d) Tổ chức có chức năng quản lý, kinh doanh nhà địa phương và đối tượng được hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công quy định tại khoản 2 Điều này thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm quy định tại Điều 28, Điều 29 Nghị định số 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định số 286/2025/NĐ-CP).
[...]

Theo đó, nguyên tắc hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công để phát triển kinh tế tư nhân được quy định như sau:

- Việc hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 6 Nghị định 20/2026/NĐ-CP phải đảm bảo đúng đối tượng, công bằng, công khai, minh bạch, hiệu quả, đúng pháp luật;

- Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp đăng ký thuê nhà, việc lựa chọn đối tượng cho thuê được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại khoản 5 Điều 14 Nghị định 108/2024/NĐ-CP;

- Việc quản lý, sử dụng số tiền thu được từ việc cho thuê nhà, việc xử lý vi phạm thực hiện theo quy định tại Nghị định 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định 286/2025/NĐ-CP);

- Tổ chức có chức năng quản lý, kinh doanh nhà địa phương và đối tượng được hỗ trợ thuê nhà, đất là tài sản công quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định 20/2026/NĐ-CP thực hiện đầy đủ quyền hạn và trách nhiệm quy định tại Điều 28, Điều 29 Nghị định 108/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 1 Nghị định 286/2025/NĐ-CP).

Yêu cầu khi sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê là gì?

Theo khoản 2 Điều 55 Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017, việc sử dụng tài sản công vào mục đích kinh doanh, cho thuê, liên doanh, liên kết phải đáp ứng nhiều yêu cầu chặt chẽ nhằm bảo đảm hiệu quả và tránh thất thoát tài sản Nhà nước.

Việc cho thuê tài sản công phải được cơ quan, người có thẩm quyền cho phép; không làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước giao; không làm mất quyền sở hữu tài sản công và phải bảo toàn, phát triển vốn, tài sản được giao quản lý.

Tài sản công chỉ được sử dụng đúng mục đích đầu tư, xây dựng, mua sắm ban đầu, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, đồng thời phải phát huy công suất và hiệu quả sử dụng.

Bên cạnh đó, đơn vị cho thuê phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính như tính khấu hao tài sản cố định, nộp thuế, phí, lệ phí theo quy định và tự chịu trách nhiệm bảo dưỡng, sửa chữa tài sản từ nguồn thu cho thuê, Nhà nước không cấp kinh phí cho nội dung này.

Việc cho thuê tài sản công cũng phải tuân thủ cơ chế thị trường và các quy định pháp luật có liên quan. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, còn phải lập đề án sử dụng tài sản công vào mục đích cho thuê, tổ chức thực hiện theo đề án đã được phê duyệt và cập nhật đầy đủ thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công.

Từ các quy định trên có thể thấy, không phải mọi bất động sản đều đủ điều kiện cho thuê hợp pháp, đặc biệt với tài sản công hoặc tài sản có yếu tố Nhà nước quản lý. Vì vậy, khi tìm thuê mặt bằng, nhà đất để kinh doanh, người thuê nên ưu tiên các kênh cung cấp thông tin rõ ràng về nguồn gốc tài sản, tình trạng pháp lý và điều kiện cho thuê, giúp giảm rủi ro và tiết kiệm thời gian xác minh.

Cơ quan nào có thẩm quyền khai thác tài sản công?

Căn cứ vào khoản 6 Điều 14 Nghị định 186/2025/NĐ-CP có quy định như sau:

Điều 14. Khai thác tài sản công tại cơ quan nhà nước
[...]
6. Thẩm quyền quyết định khai thác:
a) Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định khai thác tài sản công tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định khai thác tài sản công tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
c) Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định khai thác tài sản công do Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quản lý, sử dụng.
[...]

Như vậy, dựa vào quy định trên, đối với khai thác tài sản công thì cơ quan có thẩm quyền quyết định như sau:

- Đối với tài sản công tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan trung ương thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định khai thác;

- Đối với tài sản công tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương thì chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định khai thác;

- Đối với tài sản công do Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quản lý, sử dụng thì Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định khai thác.